Tiêu chuẩn an toàn lao động là các quy định làm căn cứ thực hiện và đánh giá mức độ an toàn lao động trong quá trình lao động. Tiêu chuẩn an toàn lao động ở các nước có thể khác nhau phụ thuộc vào trình độ lao động, trình độ công nghệ của mỗi nước.

Ở Việt Nam, các tiêu chuẩn an toàn lao động do Chính phủ và các cơ quan quản lí ngành ban hành, gồm các quy định bắt buộc về trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, được tập huấn về các quy định tiêu chuẩn an toàn theo quy định của pháp luật. Các chủ đầu tư, người sử dụng lao động, các nhà sản xuất, nhập khẩu… và người lao động có trách nhiệm thực hiện các tiêu chuẩn an toàn lao động.

Nguyên tắc cơ bản của pháp luật an toàn lao động, vệ sinh lao động

1. Nguyên tắc Nhà nước thống nhất quản lí hoạt động an toàn lao động, vệ sinh lao động

Quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động vốn không được duy trì bình đẳng trong thực tiễn, vị trí của người lao động thường ở thế yếu hơn chủ sử dụng lao động. Do vậy, để đảm bảo các quyền lợi của người lao động, đặc biệt là bảo vệ tính mạng, điều kiện sức khoẻ của họ trong quá trình lao động, vai trò của Nhà nước càng ttở nên quan trọng. Nhà nước xác định việc thống nhất quản lí các hoạt động an toàn, vệ sinh lao động là nhiệm vụ chủ yếu của công tác quản lí nhà nước trong lĩnh vực lao động. Cơ sở của nguyên tắc xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của Nhà nước đối với các bên trong quan hệ lao động, là sự cụ thể hóa nguyên tắc bảo vệ người lao động và đương nhiên, cũng chỉ có Nhà nước mới có khả năng bằng pháp luật quy định và đảm bảo thực hiện.

Nội dung của nguyên tắc thể hiện ở việc Nhà nước là chủ thể ban hành các văn bản pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động, hướng dẫn thực hiện, thanh tra và xử lí vi phạm pháp luật. Nhà nước quyết định các chương trình quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động, đầu tư nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ về an toàn, vệ sinh lao động, hỗ trợ phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, thực hiện hiện bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… Bên cạnh đó, Nhà nước cũng tạo điều kiện thuận lợi để người sử dụng lao động, người lao động các cơ quan, tổ chức liên quan thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động, áp dụng các tiêu chuẩn và hệ thống quản lí tiên tiến, hiện đại nâng cao hiệu quả an toàn, vệ sinh lao động.

Sự thống nhất quản lí an toàn, vệ sinh lao động của Nhà nước được thực hiện từ trung ương đến địa phương thông qua hệ thống các cơ quan chuyên môn. Chính phủ thống nhất quản lí nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm thực hiện quản lí nhà nước, phôi hợp với các bộ liên quan và uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lí nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động.

2. Nguyên tắc thực hiện an toàn lao động, vệ sinh lao động là nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên trong quan hệ lao động

Quá trình lao động do người lao động trực tiếp thực hiện còn chủ sử dụng lao động là chủ thể có quyền quyết định việc đầu tư bố trí các điều kiện, môi trường lao động cho người lao động. Do vậy, với mục đích kinh doanh, vì lợi nhuận của mình, người sử dụng lao động thường có xu hướng cắt giảm những khoản đầu tư, thực hiện tiết kiệm chi phí nhằm tăng lợi nhuận. người lao động là một bên trong quan hệ lao động, là người hưởng lợi trực tiếp từ việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động, do vậy họ cần phải nhận thức nghiêm túc về trách nhiệm của mình, có trách nhiệm với chính sức khoẻ, tính mạng của mình. Thực tế, nhiều khi vì do chưa nhận thức vấn đề này một cách đầy đủ, người lao động không tự giác tuân thủ các quy trình an toàn, vệ sinh lao động; hoặc vì những lợi ích trước mắt (lương cao) mà bỏ qua việc thoả thuận “điều kiện làm việc” khi kí kết hợp đồng lao động. Vì vậy, việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động được xác định không đơn giản là trách nhiệm của một chủ thể nào, mà hơn thế nữa, Nhà nước nhấn mạnh tính bắt buộc như là nguyên tắc trong việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động của người lao động và người sử dụng lao động.

Nội dung của nguyên tắc bắt buộc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động thể hiện ở nghĩa vụ tuân thủ các quy định về an toàn, vệ sinh lao động của người lao động, người sử dụng lao động và chế tài, trách nhiệm khắc phục hậu quả tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xảy ra của người sử dụng lao động. Do đặc điểm của an toàn, vệ sinh lao động là gắn liền với tiêu chuẩn về kĩ thuật, công nghệ với công việc và nghề nghiệp cụ thể, cần sự đồng bộ và toàn diện trong thực hiện nên quy định về an toàn, vệ sinh lao động phải đảm bảo sự chặt chẽ, chi tiết và có tính bắt buộc từ quy chuẩn môi trường, kĩ thuật tới biện pháp phòng tránh, khắc phục sự cố và cả trách nhiệm với các chế tài đủ mạnh đảm bảo việc tuân thủ. Không chỉ dừng lại ở những chế tài xử phạt hành chính do vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động mà còn truy cứu trách nhiệm hình sự, bồi thường, khắc phục thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và vật chất khi có những rủi ro xảy ra.

3. Nguyên tắc đảm bảo tham vấn ý kiến của đại diện người lao động, người sử dụng lao động trong quy định và thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động:

Quy định và thực hiện an toàn, vệ sinh lao động là một trong những nội dung cơ bản cụ thể hoá nguyên tắc quan họng nhất của luật lao động – nguyên tắc bảo vệ người lao động, đồng thời cũng xác định trách nhiệm chủ yếu của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động. Thực tế cho thấy sự khác biệt về lợi ích kinh tế giữa các đối tác xã hội là đại diện người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước là hiện hữu, đòi hỏi cần có sự cân bằng lợi ích, đảm bảo ổn định, hài hoà của quan hệ lao động. Vì vậy, sự tham vấn đại điện người lao động, người sử dụng lao động được xác định như một nguyên tắc cơ bản của điều chỉnh pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

Nội dung nguyên tắc tham vấn đại diện các bên trong quy định và thực hiện pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động thể hiện ở việc chia sẻ, bàn thảo thông tin về quy định và thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động. Hoạt động này diễn ra cỏ tính bắt buộc trong việc tham khảo ý kiến của đại diện người lao động (tổ chức công đoàn) và đại diện người sử dụng lao động (VCCI, VCI) trong việc ban hành các chính sách, pháp luật và chương trình quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động. Ngay trong việc thực hiện pháp luật, các cơ chế giám sát thực hiện pháp luật, đối thoại xã hội… cũng được quy định nhằm đảm bảo sự tham gia của đại diện các bên.

Nguyên tắc này không những đảm bảo cho sự phù hợp, tính khả thi trong quy định và thực hiện pháp luật an toàn, vệ sinh lao động mà còn đảm bảo nội luật hoá, phù hợp và tương thích với pháp luật quốc tế và các công ước quốc tế Việt Nam tham gia.

Bài viết liên quan